Điều khiến nhiều tài xế tại Mỹ đau đầu trong thời gian gần đây chính là việc giá xăng đã tăng đến mức kỷ lục. Mặc dù Hoa Kỳ hầu như không sử dụng dầu của Nga, cuộc tấn công của Nga vào Ukraine vẫn đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng giá khí đốt.

Cách dầu mỏ Nga tác động đến nước Mỹ
Hầu hết dầu của Nga được phân phối đến châu Âu và châu Á. Thương mại là một thế giới kết nối chặt chẽ với nhau, và dầu mỏ được định giá thông qua một thị trường toàn cầu. Vì vậy, những gì xảy ra trong một khu vực trên thế giới hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến một hoặc nhiều khu vực khác.
Vấn đề hiện nay chính là Nga là một trong những nhà cung cấp dầu hàng đầu thế giới. Vào tháng 12, Nga đã phân phối gần 8 triệu thùng dầu và các sản phẩm dầu mỏ khác đến thị trường toàn cầu, bao gồm 5 triệu thùng dầu thô được sử dụng để sản xuất xăng cùng một số mặt hàng khác.
Tuy nhiên, lượng dầu Hoa Kỳ nhập từ Nga chỉ 90.000 thùng dầu thô mỗi ngày vào tháng 12, theo thống kê gần đây nhất của chính phủ Mỹ. Ngược lại, vào năm 2021, châu Âu nhập đến 60% còn Trung Quốc nhập 20% lượng dầu của Nga. Nhưng dầu được mua và vận chuyển khắp thế giới thông qua một thị trường giao dịch toàn cầu. Vì vậy, nếu ta nghĩ theo hướng đó, thì việc ai chiụ nhiều ảnh hưởng nhất khi nguồn cung từ Nga bị cắt đứt không còn quan trọng, bởi vì dù sao đi nữa thì nguồn cung thấp vẫn sẽ ảnh hưởng đến giá cả toàn cầu. Và như chúng ta biết từ Econ 101, khi có ít nguồn cung của một mặt hàng nào đó đang có nhu cầu tiêu thụ cao, thì giá sẽ tăng.
Ví dụ, nếu châu Âu mua ít dầu của Nga hơn, họ sẽ phải thay thế bằng dầu từ nơi khác — có lẽ từ Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ hùng mạnh do Ả Rập Saudi lãnh đạo. Sự gia tăng nhu cầu dầu của OPEC sẽ khiến giá dầu thô ở các nước này tăng cao hơn. Và đoán xem ai là người thu mua hàng trăm triệu thùng dầu của OPEC? Bạn đoán đúng rồi đấy: Hoa Kỳ.
Lý do cho sự thiếu vắng các nguồn cung từ Nga
Lúc đầu, phương Tây, bao gồm cả Mỹ, đã loại dầu và khí đốt tự nhiên của Nga khỏi các biện pháp trừng phạt mà họ áp dụng. Chính quyền Biden đã đảo ngược lộ trình đó vào thứ Ba, cấm nhập khẩu dầu và nhiên liệu khác của Nga vào Mỹ, trong khi Vương quốc Anh cho biết họ sẽ loại bỏ dần việc nhập khẩu dầu của Nga vào cuối năm. (EU đang ở một vị trí khó khăn hơn trong vấn đề này, bởi vì họ phụ thuộc nhiều hơn vào dầu của Nga.)
Nhưng việc thiếu các lệnh cấm chính thức ban đầu không thực sự quan trọng về mặt giá cả. Đã có lệnh cấm trên thực tế đối với dầu của Nga kể từ khi cuộc xâm lược bắt đầu, với hầu hết dầu tại nước này không bán được.
Đó là bởi vì các nhà giao dịch dầu mỏ cực kỳ lo ngại khi chạm vào chúng. Có hàng tấn rủi ro khi mua dầu của Nga, cho dù đó là về khả năng ngừng các thỏa thuận bởi các lệnh trừng phạt đối với hệ thống ngân hàng của Nga, hoặc tìm tàu chở dầu sẵn sàng đi đến các cảng của Nga bất chấp nguy hiểm phải đi qua vùng chiến sự.
Kết quả là, loại dầu chính mà Nga xuất khẩu sang châu Âu đang được chào bán với giá giảm mạnh vì không ai muốn nó. JPMorgan gần đây ước tính hơn 4 triệu thùng dầu mỗi ngày của Nga đã bị gạt ra ngoài lề. Vì vậy, các nhà đầu tư về cơ bản đang định giá dầu như thể nguồn cung từ Nga không tồn tại.
Các quốc gia khác hiện không có ý định khai thác nhiều dầu hơn
Hầu như chẳng có ai quan tâm đến dầu mỏ vào mùa xuân năm 2020, khi các lệnh ở nhà toàn cầu đồng nghĩa với việc không ai cần phải đổ xăng và đi làm. Với sự bùng nổ nhu cầu trở lại, giá dầu đã tăng quá nhanh — ngay cả trong một thời gian ngắn giao dịch ở mức giá âm.
Đến lượt OPEC+ cắt giảm mạnh sản lượng để hỗ trợ giá dầu. Và họ đã giữ mục tiêu duy trì sản lượng thấp kể từ đó, chỉ tăng lên từ từ ngay cả khi nhu cầu về xăng dầu tăng trở lại sớm hơn dự kiến. Và hãy đoán xem ai nằm trong nhóm OPEC+? Nga. Vì vậy, OPEC+ không vội vã trong việc giải cứu tình thế hiện nay. Saudi đã liên tục nhấn mạnh trong nhiều tháng, ngay cả trước cuộc xâm lược, rằng nhóm này không có kế hoạch mở vòi dầu trở lại trong tương lai gần.
Tuy nhiên, động thái cứng rắn đó vẫn có thể thay đổi, hoặc là không. Trong một diễn biến khó hiểu trong tuần này, đại sứ của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất tại Washington nói với CNN rằng nước này muốn tăng sản lượng dầu và sẽ khuyến khích các đối tác của mình trong OPEC+ làm như vậy. Nhưng sau đó, Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Cơ sở hạ tầng của UAE đã viết trên Twitter rằng quốc gia này sẽ phải tuân thủ thỏa thuận OPEC+ và chỉ nâng sản lượng lên một cách thận trọng.
Sau đó, Bộ Dầu mỏ Iraq cho biết các nhà lãnh đạo của họ đã gặp gỡ và đồng ý rằng các đối tác OPEC+ của họ nên cân bằng cung và cầu để ổn định thị trường. Đến lúc này, chẳng ai biết trước được điều gì.
Các công ty dầu khí tại Mỹ không thể tăng cường sản lượng
Nga là nước sản xuất dầu đứng thứ 2 trên thế giới vào năm 2021, bơm 9,7 triệu thùng mỗi ngày, nhưng Mỹ là số 1 với 10,2 triệu. Các công ty Mỹ không tuân thủ các mục tiêu sản xuất bắt buộc trên toàn quốc như ở OPEC. Nhưng các nhà sản xuất dầu của Mỹ không thể hoặc sẽ không lấp đầy khoảng trống trong nguồn cung.
Giống như nhiều ngành công nghiệp khác trong đại dịch, các nhà sản xuất dầu mỏ đang phải vật lộn để tìm nhân viên và nguồn thiết bị chuyên dụng. Trong khi đó, các công ty dầu mỏ Mỹ vẫn đang vật lộn để thoát khỏi cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 2020-sự kiện đã đánh dấu một loạt các vụ phá sản. Giá cổ phiếu của các công ty dầu mỏ lớn đã tụt hậu trên thị trường kể từ đó. Và các nhà sản xuất nhiên liệu hóa thạch cũng cảnh giác rằng các chính sách môi trường trong tương lai có thể ảnh hưởng đến nhu cầu dầu trong tương lai.
Tất cả những điều trên nhằm nhấn mạnh mỗi liên hệ của giá dầu và khí đốt với các sự kiện địa chính trị, đại dịch, dịch vụ hậu cần tại bãi dầu và nhiều hơn nữa. Và chúng đã đẩy giá trung bình cho một gallon khí đốt ở Mỹ lên hơn 4,33 đô la tính đến thứ Sáu.
Tóm lại, tất cả chỉ là một ví dụ đơn giản về mối liên hệ giữa cung và cầu. Nhưng tất nhiên nó không bao giờ thực sự đơn giản như vậy.
Bài: Trí Hiếu – dẫn từ CNN

